BAI-RƠN: ĐÔN JUAN Ch 3

BAI-RƠN: ĐÔN JUAN – CHƯƠNG BA

 

  Chương III

1

Ôi, nàng thơ… et cetera, ta để lại

Chàng Đôn Juan đang ngủ thiếp ngon lành

Trong âu yếm một vòng tay cô gái,

Mà tâm hồn, như đôi mắt long lanh,

Chưa từng khóc, chưa thấy điều kinh hãi,

Cũng không ngờ đang âu yếm một anh…

Vâng, một anh sẽ làm nàng đau khổ.

Nàng chỉ biết sống và yêu lúc đó.

2

Ôi Tình yêu, sao cuộc đời cứ bắt

Anh nào yêu là sẽ phải đau buồn?

Cứ hoa hồng là có gai, chán thật,

Sướng nỗi gì khi nước mắt trào tuôn.

Thế mà ta hễ thấy hoa là ngắt.

Để làm gì? Để nó sớm vùi chôn

Chính bản thân tôi và anh sau đấy

Bằng những cánh hoa hồng kia lộng lẫy.

3

Khi phụ nữ vừa mới yêu, phải nói

Họ rất yêu người họ chọn, nhưng rồi

Khi thân quen, họ bắt đầu thay đổi,

Như vẫn thường thay đổi tất, than ôi.

Ai cũng biết, mới đầu yêu sôi nổi,

Họ chỉ cần một đối tượng mà thôi,

Nhưng sau đấy họ thích nhiều hơn một,

Mà chẳng nghĩ đó là điều không tốt.

4

Tôi không biết nên trách ai – phụ nữ

Hay đàn ông? Tôi chứng kiến nhiều lần:

Nếu vợ anh không mê Kinh, ở cữ,

Thì thế nào cũng sẽ kiếm tình nhân.

Vâng, vợ anh vẫn yêu anh đấy chứ,

Vẫn trung thành, vẫn chu đáo, vân vân.

Nhưng không nghĩa là không yêu ai đấy.

Mà đã một thì hai, ba, hẳn vậy.

5

Tôi rất tiếc, rất buồn vì một lẽ

Rằng chúng ta trót hư hỏng từ đầu,

Rằng tình yêu và hôn nhân không thể

Không bất đồng, dù nhiều mặt giống nhau.

Như tình yêu thành hôn nhân, cũng thế,

Rượu có ngày sẽ thành dấm rất mau.

Thật chua xót là tình yêu thơ mộng

Vẫn cứ phải thành văn xuôi cuộc sống.

6

Chắc phải có một luật riêng nào đấy

Về ghét, yêu trong cái vấn đề này.

Khi đang yêu thì anh nào chả vậy,

Rất vui mừng, khi vợ trói chân tay

Thì đã muộn, và cuối cùng sẽ thấy

Rằng gia đình là ngán ngẩm. Xưa nay

Chưa lấy nhau, yêu hăng là có ích,

Chứ làm chồng quá yêu là lố bịch.

7

Ta, đàn ông, yêu si mê thường ngượng,

(Mà nói chung cũng khá mệt). Và rồi

Ai đủ sức suốt đời mình chiêm ngưỡng

Cái hàng ngày ta vẫn có? Than ôi,

Trong khi ấy ta phải đành tận hưởng

Với vợ mình cho đến chết mới thôi

Cái hạnh phúc của gia đình hòa thuận,

Đúng như Chúa và giấy tờ căn dặn.

8

Vâng, tất nhiên cảnh gia đình chán tẻ

Với tình yêu là trái ngược từ đầu.

Thơ dành riêng cho những người yêu trẻ,

Đến vợ chồng là mất hết còn đâu.

Nên xưa nay các nhà thơ vì thế

Chỉ viết về các anh chị yêu nhau.

Nếu Laura mà lấy ông Petrarque,

Thì chắc chắn thơ ông ta sẽ khác.

9

Các hài kịch hạ màn bằng hôn lễ,

Và tất nhiên bi kịch – cảnh đau lòng.

Nhưng tác giả lại giấu ta không kể

Về những gì sau đấy, có buồn không.

Vì họ sợ nếu nói ra, có thể

Bị chê cười vì tội dám bông lông.

Nên thành lệ, sau tang hay đám cưới,

Là họ im, mặt cứ buồn rười rượi.

10

Chỉ có hai nhà thơ, tôi phải nói,

Viết rất hay về địa ngục, thiên đường

Là Dante và Milton, khốn nỗi,

Chuyện gia đình các vị, nghĩ mà thương,

Rất bi đát, do tính tình, tội lỗi…

(Chuyện thường ngày giữa các cặp uyên ương).

May mà vợ của hai ông mù tịt,

Không là mẫu như Beatrit.

11

Tôi nghe nói một số nhà thông thái

(Mà tôi không tin lắm) vẫn cho là

Qua Beatrit, ngài Dante vĩ đại

Đã trình bày Thần Luận Phép sâu xa.

Đấy là việc của nhà thơ – vô hại.

Chỉ có điều nhân vật của ông ta

Rất thần bí, và theo tôi cốt để

Chứng minh Toán là một môn không dễ.

12

Juan, Haiđê không lấy nhau, phải nói,

Không do tôi mà do họ. Việc này

Nếu bạn đọc cho là điều có tội,

Thì cũng đừng chê tác giả tôi đây.

Còn nếu không thì vứt đi, xin lỗi,

Cần quái gì cứ phải giữ trên tay

Một quyển sách làm tổn thương đạo lý

Bằng tình yêu bất minh dù thi vị.

13

Họ hạnh phúc trong tình yêu ngây ngất,

Được bên nhau yên tĩnh giữa trời chiều.

Nàng Haiđê vốn từ tâm, chân thật,

Không nhớ gì về ông bố thân yêu.

Thường là thế, ít khi ta chịu mất

Những cái gì ta thích thú, nâng niu.

Nên chẳng lạ: Khi bố đi đâu đấy,

Nàng biết dùng thời gian khôn khéo vậy.

14

Còn ông bố đang ngày đêm mơ tưởng

Săn tàu buôn để cướp của. Mà rồi

Ta không trách: nếu ông là thủ tướng,

Việc ông làm như thu thuế mà thôi.

Ông khiêm tốn, công tâm và kỹ lưỡng.

Công việc này cũng khiêm tốn, theo tôi

Ông chẳng qua chỉ là anh cần mẫn

Làm việc nước, chuyên về nghề săn bắn.


15

Chuyến công cán lần này do gặp bão

Và cũng do tham một vố khá hời,

Nên công việc bị kéo dài. Ông lão

Trong khi chờ, không chịu cảnh ngồi chơi.

Ông bắt đám tù nhân thay quần áo,

Bắt mang cùm, cho đánh số, nghỉ ngơi,

Rồi đặt giá từng người nô lệ một

Khoảng một trăm đô-la hay trăm mốt.

16

Lão đem bán ở Mantapan một số.

Cho mang sang Tunis một chuyến tàu

(Những nô lệ quá già trong bọn họ

Bị thẳng thừng sai vứt xuống biển sâu).

Số còn lại, trừ vài anh giàu có,

Được chuộc tiền và không bị đánh nhau,

Lão đem xích thành đôi (cho có bạn)

Rồi chở sang Tripôli chờ bán.

17

Ông cũng mua các mặt hàng khác nữa

Để nay mai cho đem bán chợ trời

Ở Levant. Ông không quên chọn lựa

Những thứ cần cho cuộc sống ăn chơi

Của con gái, như kéo, dao, máy lửa

Cùng sáo, đàn, các loại ấm, nồi hơi…

Nghĩa là hết những gì hay và tốt

Ông kiếm được cho cô nàng con một.

18

Về thú vật, ông cất công chọn được

Chú gấu con, hai vẹt, mấy con mèo,

Một con khỉ rất tinh khôn, hài hước,

Và cuối cùng là con chó nhẳng nheo

Mà nghe nói đâu như hai tháng trước

Một anh chàng người Anh quốc mang theo

Nhưng bỏ lại ở Ithaca. Ông lão

Cho nhốt chung vào một lồng tránh bão.

19

Khi làm xong những việc này nghề nghiệp,

Ông liền cho thu xếp để về nhà,

Sai sửa chữa tàu thuyền cho chuyến tiếp,

Rồi dong buồm quay lại đảo quê xa,

Nơi có con là Haiđê hào hiệp

Cùng người tình đang phá của ông cha.

Ông cho tàu đi vòng quanh vịnh nhỏ

Đầy nguy hiểm, rồi thả neo ở đó.

20

Ông thong thả rời tàu, leo lên bến.

Không hải quan, không một trạm gác nào

Hỏi hộ chiếu, hỏi từ đâu đi đến?

Mang theo gì? Và số lượng? Vì sao?…

Đám thủy thủ theo lệnh ông, nhanh nhẹn

Bốc từ tàu, chất một đống rất cao,

Toàn hàng hóa – nào san hô, vải vóc,

Nào vũ khí, nào gấm thêu, vàng ngọc.

21

Lên tới đỉnh của ngọn đồi cao nhất,

Ông dừng chân, trông thấy những ngôi nhà

Có tường trắng mà ông yêu. Lạ thật,

Ông thấy buồn tâm trạng kẻ đi xa

Nay trở lại – niềm vui hay nước mắt,

Gì đang chờ? Cũng giống thế, chúng ta

Sau xa cách, nhìn ngôi nhà thân thiết,

Ta lại nhớ những phút giây từ biệt.

22

Các ông bố, các anh chàng danh giá

Không yên âm khi đi vắng lâu ngày,

Thì tôi nghĩ không có gì đáng lạ –

Chuyện gia đình rất tế nhị xưa nay.

Không quen nịnh, có gì xin bỏ quá,

Xin thẳng thừng được nói thẳng ra đây:

Các bà vợ vắng chồng là rắc rối,

Còn con gái – dễ trốn nhà theo hội.

23

Không phải ai cũng như Pênêlốp,

Xa đàn ông để ngóng đợi chồng về.

Không phải ai cũng được yêu, hồi hộp

Ngã vào vòng tay vợ lúc về quê.

Thường ngược lại: anh thấy anh thoi thóp

Trên bàn thờ – vợ giết – nghĩ mà ghê.

Anh còn thấy con anh – con hàng xóm.

Chó anh nuôi thì sủa anh inh ỏm.

24

Anh độc thân cũng buồn đau không kém,

Vì người yêu khi xa cách ở nhà

Có thể lấy một ông giàu hóm hém.

Để trả thù, khi trở lại anh ta

Thành cavalier servente nguy hiểm,

Khinh cô nàng hư hỏng thói trăng hoa;

Hơn thế nữa, còn làm thơ rất ác

Trách số phận, trách đàn bà phụ bạc.

25

Cả các ông, những người luôn đức độ

Mà từ lâu với phụ nữ có chồng

Đã có được cái liaison cần có,

Nghĩa là toàn quan hệ tốt, các ông

Lại được thần Hymen luôn bảo hộ,

Chẳng có gì đáng lo lắng…Nhưng không,

Tôi xin khuyên đừng nên đi đâu vắng.

Vì phụ nữ nói chung là lơ lẳng.

26

Lambrô, bố nàng, tên cướp biển

Thường ít khi đi trên đất, lúc này

Thấy xa xa ngôi nhà mình xuất hiện,

Ông rất mừng, tuy phải nói xưa nay

Không chú ý những gì đang diễn biến

Trong tâm hồn, yêu ghét chẳng hề hay,

Trừ một việc là yêu con, điều ấy

Bản thân ông không hiểu sao lại vậy

27

Ông nhìn ngắm tòa lâu đài trắng nhạt

Đang đứng kia yên tĩnh giữa chiều tà,

Cả khu vườn rất tươi xanh, râm mát,

Những bóng người luôn ẩn hiện từ xa,

Với quần áo – trên nền xanh bát ngát –

Đủ các màu như bướm lượn bên hoa.

Ông còn nghe tiếng suối reo khe khẽ,

Tiếng chó sủa bay vọng về vui vẻ.

28

Nhưng sau đó đến gần hơn, ông thấy

Và ngạc nhiên trước cảnh khác thường này:

Ông chợt nghe tiếng nói cười, múa nhảy

Và tiếng đàn rất hiếm có xưa nay;

Cả tiếng trống, cả tiếng kèn đâu đấy…

Thật lạ lùng, và lạ nhất hôm nay

Là những tiếng cười vang nghe rất rõ.

Cười như thế phương Đông thường ít có.

29

Theo sườn dốc của ngọn đồi, cứ thế

Ông bước đi, tay vạch lá, và rồi

Thấy một toán người hầu cùng nô lệ

Bỏ việc nhà, thơ thẩn dạo từng đôi;

Thấy toán khác đang trong cơn vui vẻ

Nhảy điên cuồng, đến ngất xỉu mới thôi,

Một điệu nhảy rất nhanh là Pyrrhic

Mà những người Levante thường thích.

30

Tay cầm tay, long lanh như chuỗi ngọc,

Kia, các cô Hy Lạp nhảy vòng tròn.

Rất đẹp mắt, cô gái nào mái tóc

Cũng chảy dài, che cổ trắng và thon

(Đủ để bắt mười nhà thơ phải khóc,

Viết trăm bài rất tha thiết, nỉ non).

Một cô hát, và những cô còn lại

Liền hát theo, rất vui và thoải mái.

31

Hãy nhìn kia – ngồi xếp bằng chữ ngũ,

Một đám đông đang ăn uống, nói cười.

Các loại thịt và cơm rang có đủ.

Rượu ê hề từ mọi xứ, mọi nơi.

Còn tráng miệng thì cành cây quyến rũ

Ngay trên đầu – nào nho chín, cam tươi,

Nào lựu đỏ, đang chìa ra trước mặt.

Ai muốn ăn thì xin mời cứ ngắt.

32

Một đám trẻ xúm quanh con cừu trắng,

Tết vòng hoa đeo lên cổ, lên sừng.

Một chú dê tuy già nhưng rất nhắng,

Lúc nghếch đầu, lúc nhíu mũi, cong lưng

Như muốn húc, rồi bỏ đi im lặng,

Lúc bất ngờ cao hứng nhảy tưng tưng.

Nghĩa là hết các trò vui. Hơn thế,

Chú dám ăn từ lòng tay lũ trẻ.

33

Những đứa trẻ ngây thơ kia, đôi mắt

To và đen, xinh đẹp đến siêu thường,

Những đường nét vô tư trên khuôn mặt,

Đôi má hồng mũm mĩm đến là thương.

Chúng hạnh phúc, luôn làm ta ngây ngất,

Gợi trong lòng bao liên tưởng vấn vương.

Còn các bậc hiền gia thì đau khổ,

Buồn vì chúng sẽ phải già như họ.

34

Một ông lão hề lùn, kia, hăng hái

Kể rất to cho một tốp người già

Đang hút thuốc, về những điều kinh hãi,

Về kho vàng chôn đâu đó. Ông ta

Còn kể chuyện, ở châu Phi thì phải,

Nhiều mụ già phù thủy rất tài ba

Biến các cặp yêu đương thành thú vật

(Những chuyện ấy tất nhiên là có thật).

35

Nói tóm lại, giờ ở đây ta thấy

Đủ trò vui rât cần thiết cho người:

Nào chuyện tếu Ba Tư, nào múa nhảy,

Nào hát, đùa, ăn uống, trái cây tươi…

Gì cũng có. Lambro nhìn thấy,

Khẽ lắc đầu: cứ tiếp tục vui chơi

Bằng cách ấy thì nhà ông, xin lỗi,

Chẳng mấy chốc sẽ biến thành mây khói.

36

Thật tội nghiệp những người kia trần tục

Vốn xưa nay bất hạnh quá nhiều rồi.

Nay có được một ngày vàng hạnh phúc

Trong cuộc đời đồ đá cũ. (Theo tôi,

Chính khoái lạc đưa ta vào địa ngục,

Như các nàng tiên cá gọi mà thôi).

Thế mà bỗng Lambro lần nữa

Dập tắt nó như dùng chăn dập lửa.

37

Thường ít nói, giờ ông ta lặng lẽ

Đến gần hơn, với ý định lần này

Làm con gái phải ngạc nhiên, nhân thể

Bắt mọi người cùng tang vật trong tay.

Ông đứng lại một hồi lâu cốt để

Nghĩ về điều đã nghe, thấy hôm nay

Ông tự hỏi không hiểu sao con gái

Lại cần đến đám đông này vô lại.

38

Ông không biết người ta đồn ông mất,

Vừa để tang hơn nửa tháng (lúc nào

Con người ta cũng thích điều đơm đặt,

Nhất là người Hy Lạp – biết làm sao?)

Liền sau đấy, rất mau khô nước mắt,

Cả nhà ông lại tươi tỉnh, xôn xao.

Nàng Haiđê cũng vui thêm một tị,

Và bắt đầu đóng vai bà quản lý.

39

Cũng vì thế nên có bia, có nhạc,

Có tiệc ngon, có múa hát, tiếng cười,

Có nô lệ thành thằng say lười nhác,

Biến đảo này thành một chốn ăn chơi.

Ai mặc ai, Lambrô thì khác,

Cái việc này ông phải trị đến nơi.

Kể từ ngày con ông thành bà chủ,

Gia tài ông đã không còn như cũ.

40

Các bạn nghĩ Lambrô thấy vậy

Sẽ bùng lên giận dữ, quát vang nhà?

(Mà điều đó thì như ta biết đấy,

Cũng thường tình). Các bạn nghĩ ông ta

Sẽ dùng súng và dùng roi lúc ấy

Để đánh bầy nô lệ dám xa hoa?

Để nhân thể một lần cho chúng nếm

Cái penchant của một tên cướp biển?

41

Không đúng đâu! Ông là người nhã nhặn

Trong đám dân cướp biển khá điên khùng.

Biết kiềm chế, ông ít lời, chín chắn,

Chẳng bao giờ mắc tội nói lung tung.

Tôi rất tiếc: ông quá mê săn bắn,

Chứ không thì còn tiến nữa. Nói chung,

Nếu trở lại giới thượng lưu, có thể

Ông nổi tiếng là vô cùng tử tế.

42

Ông lại gần dãy bàn ăn cạnh đó

Vỗ lên vai một ông lão hói đầu,

Vừa mỉm cười, vừa ghé tai hỏi nhỏ:

Cuộc vui này ai tổ chức, do đâu?

Nhưng ông lão, cái ông già khốn khổ,

Đã say mềm, say díp mắt từ lâu

Nên không hiểu một tí gì – thật uổng.

Lão cười to, và cầm chai lại uống.

43

Rồi ngất ngưởng, không ngoái đầu, mỏi mệt,

Lão vung tay, cốc rượu sánh ra ngoài:

“Xin báo trước, ta không ưa tán phét.

Rót thêm vào!”. Và ông lão thứ hai

Liền lên tiếng: “Chủ chúng tôi đã chết,

Còn bây giờ ông chủ mới là ai,

Đi mà hỏi”. Người thứ ba: “Đúng thế,

Ông chủ mới không già, mà rất trẻ.”

44

Vì mới đến, những người này không rõ

Lambrô là nhân vật thế nào.

Lambrô giận tím người, lúc đó

Đã kịp thời kìm lại được, may sao.

Ông nuốt giận, cố mỉm cười lễ độ,

Hỏi anh chàng – ông chủ mới ra sao,

Từ đâu đến, con nhà ai, xấu, tốt,

Đã kịp ngủ với cô nàng con một?

45

“Tôi không biết, một anh chàng đáp lại,

Họ và tên ông chủ mới. Mà rồi

Chẳng cần biết, chỉ biết con gà mái

Và rượu này là rất hợp gu tôi.

Nếu ông muốn, cứ hỏi ông thầy cãi

Ngồi kia kìa, chỉ một loáng mà thôi,

Là mọi chuyện thế nào ông sẽ biết”.

Anh ta nói, tự nghe mình không mệt.

46

Lambrô là người, như đã nói,

Khá hào hoa, lại kiên nhẫn vô cùng.

Cả nước Pháp, theo tôi không kiếm nổi

Một người nào có thể sánh cùng ông.

Nên dễ hiểu, tuy bây giờ tức tối,

Nhưng bề ngoài ông vẫn tỏ như không,

Dù phải nghe một lũ say cục súc,

Say vì rượu của chính ông mới nhục.

47

Một con người đủ tài năng, trí tuệ

Bắt bao nhiêu người khác phải vâng lời,

Quen ra lệnh, quen thành công, có thể

Bắt người này hoặc người khác đầu rơi,

Mà lại biết tự kiềm mình như thế,

Quả là điều không dễ thấy khắp nơi.

Thế mà người thích tự kiềm, có lúc

Lại bị chính kẻ thù mình đánh gục.

48

Lambrô không ít khi nóng nảy,

Nhưng những khi do công việc yêu cầu,

Lại bình tĩnh và lì gan hiếm thấy,

Như rình mồi, con rắn đợi rất lâu.

Với ông ta, xưa và nay đều vậy,

Chẳng bao giờ quá vội vã, lo âu,

Ông mà đánh thì cú đầu phải chết.

Cú thứ hai – hoàn toàn không cần thiết.

49

Ông chẳng hỏi câu nào thêm, lặng lẽ

Theo đường riêng bí mật lẻn vào nhà.

Giữa sôi nổi một cuộc vui như thế,

Không người nào còn nhớ đến ông ta.

Ông còn yêu Haiđê không? Có thể.

Mà điều này không phải việc chúng ta.

Ai đã chết mà bất ngờ sống lại,

Thấy cảnh này, tất nhiên không thật khoái.

50

Nếu người chết bỗng đội mồ đứng dậy

(May làm sao, không thể có điều này)

Từ nghĩa địa, vợ hay chồng ai đấy

Bỗng trở về thì phải nói rất gay.

Những người sống sẽ sượng sùng lúc ấy.

Vì những gì vờ đau khổ lâu nay

Đều lộ tẩy. Nếu họ rơi nước mắt,

Thì tôi nghĩ lần này là khóc thật.

51

Ông bước chân vào ngôi nhà trước đó

Là nhà ông, nay chủ mới đang ngồi.

Riêng điều ấy đã làm ông phẫn nộ,

Hơn rất nhiều cái chết thật, theo tôi,

Thật không dễ thấy nhà anh thành mộ,

Thấy một thời đầy mong ước sục sôi,

Đầy hy vọng – giờ thành than đang cháy.

Thật không dễ tin một điều như vậy.

52

Vâng, ông bước vào ngôi nhà xa lạ

(Thiếu tình yêu không thể gọi là nhà)

Và cảm thấy rất cô đơn, buồn bã

Khi bất ngờ nhớ lại tháng năm qua.

Chính nơi đây cuộc đời ông băng giá

Được mặt trời sưởi ấm, được làm cha,

Được âu yếm bởi bàn tay con gái

Đẹp, thơ ngây, làm lòng ông mát lại.

53

Ông, tính khí hơi hung tàn, có thể,

Nhưng dù sao cũng lịch sự, ân cần,

Khá điềm đạm trong thói quen, xử thế,

Trong cách nhìn, thậm chí cả cách ăn.

Ông thấu hiểu mọi tình hình mau lẹ,

Vượt qua nhiều nguy hiểm, nỗi gian truân.

Làm nô lệ rõ ràng ông chẳng thú,

Nên nhanh chóng ông trở thành ông chủ.

54

Tính ham quyền và lòng tham vô độ,

Máu, chiến tranh, suốt cả cuộc đời dài

Đầy nguy hiểm luôn nay đây mai đó,

Gặp toàn người hung dữ, cảnh bi ai…

Những điều ấy biến ông thành khắc khổ

Thành một người rất đáng sợ. Còn ai

Muốn làm bạn – ông là người chung thủy,

Là bạn tốt, tuy hơi phiền đôi tý.

55

Trong người ông cái tinh thần mạnh mẽ

Của người dân Hy Lạp cổ còn nhiều,

Cái tinh thần dẫn tổ tiên vượt bể

Đi tìm vàng, trên sóng nước phiêu diêu.

Ông không thích hòa bình, vâng, quả thế,

Muốn trả thù cho Hy Lạp thân yêu    

Bị làm nhục – ông đã thề sống mái

Với tất cả phần loài người còn lại.

56

Nhưng trong ông, chất Iôn tế nhị

Do ngẫu nhiên được khí hậu đưa vào,

Nên ông thích, ừ thì không chủ ý,

Cả tiếng đàn, cả mây nước, trăng sao.

Ông còn yêu, trong những giờ yên nghỉ,

Đóa hoa rừng, dòng suối mát xôn xao.

Những cái ấy, dù ít nhiều xa lạ,

Cũng làm ấm tâm hồn ông lạnh giá.

57

Nhưng lớn nhất có ở ông, phải nói,

Là tình yêu cô con gái; trong lòng

Ông giấu nó cùng bao nhiêu tội lỗi

Và việc làm độc ác của đời ông.

Không có nó thì từ lâu, xin lỗi,

Cả cuộc đời toàn việc xấu, bất công,

Hoặc có thể ông sẽ thành Cyclốp –

Mù, điên giận vì ghen tuông, hồi hộp.

58

Khi hổ cái mất con là đáng sợ

Cho những anh đang chăn thú; và rồi

Cũng nguy hiểm cho con tàu ,vô cớ

Nếu biển chồm giận dữ, sóng không thôi.

Nhưng gặp cản, con sóng kia tan vỡ

Để cuối cùng biến mất hẳn. Theo tôi,

Khi ông bố yêu con mà tức giận

Thì nguy hiểm là một điều chắc chắn.

59

Ai cũng biết con hư là khốn khổ

(Cái đau chung cho tất cả mọi người).

Những đứa con mà một ngày nào đó,

Khi tuổi già ập đến, lúc tàn hơi,

Vâng, ngày ấy ta buồn, nhìn chúng nó

Để thấy mình những ngày trẻ vui tươi,

Thế mà chúng, bầy con ta yêu quý,

Chúng nỡ để chúng ta đi với quỉ.

60

Tôi rất thích một gia đình êm ấm

Đông mà vui (nhưng không qua ồn ào).

Thích chiêm ngưỡng bà mẹ hiền đang ẵm

Đứa con mình và cho bú (Mong sao

Không vì thế mà bà gầy); thích ngắm

Cảnh một bầy thiên thần nhỏ lao nhao

Bên bà mẹ, và dù bà mệt mỏi,

Vẫn tỏa sáng như đồng xu vàng chói.

61

Lambrô không để ai nhìn thấy,

Đi lối sau rồi vào hẳn trong nhà.

Ngày sắp tắt. Đôi uyên ương lúc ấy

Vẫn đang ngồi bên yến tiệc xa hoa.

Trước mặt họ được xếp đầy từng dẫy

Trên chiếc bàn chạm trổ rất tài ba

Các đồ sứ, đồ kim cương có đủ,

Bầy nô lệ đứng hai bên phục vụ.

62

Tôi chưa thấy bữa ăn nào như thế,

Với hàng trăm các món lạ ê hề.

Cả những người rất sành ăn có lẽ

Cũng khó lòng kiếm nổi một lời chê.

Nào yến, sâm, nào lợn con, lợn mẹ,

Xúp cá vàng rồi bánh ngọt, cá trê,

Rồi nước quả, rồi cam vàng, lựu đỏ –

Nói tóm lại là cái gì cũng có.

63

Bánh bích quy và trái cây chín mọng

Được đựng trong chậu lớn, loại đắt tiền,

Trong những chiếc chén tầu thanh và mỏng.

Rồi cuối cùng cà phê nóng mang lên

(Để người uống không vô tình bị bỏng

Những cốc này được khảm bạc hai bên).

Tôi chỉ tiếc là cà phê của họ

Pha lẫn quế và đinh hương trong đó.

64

Treo lên tường đủ các màu diêm dúa

Là thảm len đủ loại, đẹp và dày.

Chính giữa thảm có hoa thêu bằng lụa,

Còn bốn bề là sóng cuốn mây bay.

Cao hơn nữa trên nền màu cỏ úa

Bằng chữ hồng, người ta dẫn ra đây

Thơ của các nhà thơ Ba Tư cổ,

Hay danh ngôn của vài ông nào đó.

65

Ở phương Đông những câu này thông thái

Có khắp nơi để nhắc nhở người trần

(Như ngày xưa Belsshazza vĩ đại

Được nhắc bằng dòng chữ lửa. Người dân

Của Memphis thì không hề kinh hãi,

Mang đầu người đến đặt giữa bàn ăn).

Vâng, lý trí nói hay thì hay thật,

Nhưng hưởng lạc theo tôi là hay nhất.

66

Cô gái đẹp do nhảy nhiều, lao phổi;

Một tài năng quá chén phải lìa đời;

Tay trác táng đau buồn khi sám hối;

Những ông già bị bỏ chết vài nơi…

Đấy, kết quả của cuộc đời tội lỗi,

Của tiệc tùng và hưởng lạc, vui chơi.

Không khó hiểu: ăn nhiều là có hại

Cũng chẳng kém thức khuya hay tình ái.

67

Như trên ngai, trong lụa nhung, một chỗ

Juan, Haiđê giữa lúc ấy đang ngồi

Trên một chiếc đi văng to, đồ sộ

Chiếm hai phần căn phòng lớn, chao ôi,

Bốn xung quanh gối đủ màu xanh đỏ,

Còn trên đầu các nhân vật của tôi

Là vầng dương đang nhô cao kiêu hãnh,

Tỏa những tia bằng lụa vàng lấp lánh.

68

Các đồ sứ, đồ pha lê lộng lẫy,

Thảm Ba Tư, Ấn Độ trải kín nhà,

Tranh và tượng đẹp chưa bao giờ thấy,

Cũng góp phần làm tăng cảnh xa hoa.

Rồi người lùn, rồi thỏ, chim lúc ấy

Nhân dịp này cũng được trổ tài ba,

Để mua vui cho bề trên và để

Kiếm được chút đặc ân riêng nhờ thế.

69

Phòng la liệt các gương to mát lạnh.

Kê hai bên là một dãy bàn dài

Bằng gỗ mun khảm xà cừ lấp lánh,

Khảm bạc vàng, khảm xương trắng, ngọc trai.

Các bàn ấy đầy rượu ngon, thịt, bánh,

Đầy sơn hào cùng hải vị. Và ai

Muốn đến ăn thì mời ngồi – không tiếc.

Ai muốn đến lúc nào, xin cứ việc.

70

Tôi xin nói về Haiđê một tí:

Nàng mặc hai jelich, một màu đào,

Một màu tím; chiếc sơ mi tế nhị

Che ngực nàng đang như sóng dâng cao

Một dãy cúc khá nhiều bằng ngọc quý

Đính thành hoa hình bướm hoặc hình sao.

Nàng còn khoác một chiếc khăn màu trắng

Như đám mây quấn quanh nàng im lặng.

72

Là con gái một gia đình giàu có,

Chân Haiđê cũng mang đủ các vòng.

Tóc lấp lánh toàn kim cương to nhỏ;

Ngọc đính đầy dải lụa thắt quanh hông

Mà cái giá của những viên ngọc đó

Ít người nào đoán hiểu được, ồ không.

Còn chiếc váy màu vàng vừa đủ khép

Che đôi chân theo tôi là rất đẹp.

73

Mái tóc rậm màu nâu như sóng dậy,

Dài chấm chân, che có thể kín người,

Như dòng thác từ Anpơ cuộn chảy

Được trời chiều tô điểm sắc vàng tươi.

Trên trán nàng, mớ tóc xoăn lộng lẫy

Được ốp bằng lưới lụa, một vài nơi

Chực tuồi ra khi gió xuân thổi nhẹ,

Như rất muốn thoát ra ngoài, chắc thế.

74

Nàng đích thị là hiện thân cuộc sống,

Và thiên nhiên khi có cặp mắt nàng

Như trở nên xinh đẹp hơn, sinh động.,

Đôi mắt thần, hiền dịu, sáng, mênh mang.

Nàng trong sạch hơn Psychê khi sống,

Hơn hoa hồng khi mới chớm xuân sang,

Nếu bị bắt quỳ trước nàng – chớ ngượng,

Vì dù sao đó không là tín ngưỡng.

75

Theo phong tục, nàng tô đen mi mắt.

Tôi thì cho không cần thiết việc này,

Vì đôi mắt tô đen kia, tốt nhất,

Giữ nguyên hình như vẫn có xưa nay.

Tôi xin thề, thề có trời có đất,

Rằng việc nàng tô đỏ móng chân tay

Là rất dại, vì bản thân các móng

Không cần tô đã tuyệt vời, đỏ mọng.

76

Ai cũng biết phấn và son, xin lỗi,

Có làm tăng vẻ đẹp một đôi bà.

Nhưng Haiđê, như trên tôi đã nói,

Chẳng cần gì cái của ấy – Làn da

Của nàng trắng không có gì sánh nổi,

Trắng hơn nhiều đỉnh tuyết trắng xa xa.

Sêcxpia nói: “Tôi không tô hoa huệ,

Không mạ vàng cho tiền vàng đẹp đẽ”.

77

Chiếc áo trắng của Đôn Juan rất mỏng,

Đầy kim cương như sao sáng Ngân Hà.

Còn chiếc khăn vừa đen vừa vàng óng.

Đội trên đầu, chiếc mũ của anh ta

Gấp nhiều nếp, mà nói chung rất rộng,

Vướng tóc nàng. Thấp thoáng phía xa xa

Là mặt trăng vừa nhô lên yếu ớt,

Tỏa ánh sáng run run màu trắng nhợt.

78

Để mua vui, có rất nhiều vũ nữ,

Một nhà thơ, mấy quan hoạn, anh hề.

Nhà thơ ấy khá nổi danh, cỡ bự,

Và cũng thường khoe danh tiếng rất ghê.

Gặp ông ta ít người nào do dự

Mở túi tiền, vì không muốn bị chê.

Đời là thế, muốn khen thì phải trả.

Như mọi cái, thơ của ông có giá.

79

Ưa cái mới, ông xem thường cái cổ,

Ông coi khinh truyền thống cũ tốt lành.

Chỉ một lần vua mời ông ăn cỗ

Mà thành người chống phái Jacôbanh.

Đã có lúc từ voi ông xuống chó,

Vì tình cờ ra vẻ trọng thanh danh.

Giờ ông khôn, khen Sultan vĩ đại,

Như Southey, như Crashaw hăng hái.

80

Như chiếc kim la bàn luôn xê dịch,

Ông đổi thay quan điểm khá nhiều lần.

Sao Bắc Cực của ông thì rõ thích,

Không bao giờ một chỗ chịu dừng chân.

Ông khôn khéo tránh đòn đau kẻ địch,

Và vẫn thường vì tiền bạc, miếng ăn,

Ông nói dối đến quá ư năng nổ –

Thì Vinh Quang đâu ngẫu nhiên mà có.

81

Ông thông minh, nếu như tên phản bội

Cũng thông minh được như thế, và rồi

Các Vateo irretabiles, khốn nỗi,

Cũng thích mình được nổi tiếng…Mà thôi,

Ta đang nói điều gì đây? Xin lỗi,

A! Tôi dừng cuốn tiểu thuyết của tôi

Ở chương ba – với hai người bạn trẻ,

Với tình yêu, tiệc tùng và bàn ghế…

82

Cái ông kia, dù thơ tồi, tuy vậy,

Khá nhiều nơi vẫn yêu mến mời chào.

Và quá chén, không ít khi đâu đấy,

Ông hùng hồn đọc thơ mới…Ôi chao,

Thơ của ông quá cầu kỳ, bóng bẩy,

Khiến mọi người không hiểu lắm; dù sao

Họ vẫn cứ vỗ tay to, bởi lẽ

Theo truyền thống nghe thơ là phải thế.

83

Nhờ thu nhặt một đôi điều đây đó

Về tự do khi du lịch nước ngoài,

Nay giữa đám bạn bè, ông đang cố

Tỏ ra mình cũng tử tế như ai,

Ông mạnh dạn (giống thời xưa năng nổ)

Nói thật nhiều, không sợ đúng hay sai,

Để tiếp tục lừa tôi, lừa các vị

Và nịnh hót bậc bề trên quyền quý.

84

Ông ta đi một vài nơi: nước Pháp,

Tây Ban Nha, Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ…

Đã từng gặp đủ loại người phức tạp,

Biết đủ điều trong những chuyến ông đi.

Nên ông hiểu, ngay ở đây, Hy Lạp,

Rằng con người thường ưa nịnh đôi khi,

Rằng phải sống theo châm ngôn (không lạ)

Ở La Mã phải thành người La Mã.

85

Ông biết hát cho mọi người, mọi nước;

Ca Ira cho người Pháp nếu cần,

Hay God save the king cho người Anh cũng được,

Miễn là người nghe hát phải cho ăn.

Nghĩa là ông, từ cao siêu, hài hước,

Đến trữ tình, rồi châm biếm, vân vân,

Ông xài tất. Xưa Pindar có thể

Viết về ngựa, giờ sao ông không thể?

86

Ở nước Anh, ông viết thơ – tiểu thuyết;

Tây Ban Nha – chiến đấu; Pháp – thơ tình;

Ở nước Ý tất nhiên ông sẽ viết

Như các nhà thơ cổ rất thông minh;

Ở nước Đức (xem de Stae thì biết)

Là học trò của Goethe tiên sinh.

Còn Hy Lạp, cho nước ông vĩ đại,

Ông sẽ viết một bài dài, đại khái:

87

Ông hát thế (hay ông cần hát thế)

Bằng lời thơ uyển chuyển, khá ồn ào.

Ông, con cháu của Orphê diễm lệ,

Mà thơ tồi, tồi hơn hẳn, buồn sao.

Ta xúc động nghe thơ ông buồn tẻ,

Nhưng đời này ta đã biết, ôi chao,

Các tình cảm nhà thơ thường giả dối,

Như màu tay người thợ sơn thay đổi.

88

Lời đã nặng, giọt mực đen bé tí

Còn nặng hơn khi thành chữ thế này,

Bắt hàng vạn, hàng triệu người suy nghĩ.

Thật lạ lùng, dòng chữ nhỏ xưa nay

Có thể nối gần nhau bao thế kỷ.

Cũng lạ lùng là cuốn sách trên tay

Bạn đang giữ: sách của tôi – buồn, chán,

Thế mà sống lâu hơn tôi và bạn.

89

Khi nắm xương của nhà thơ đâu đấy

Dưới đất đen đang thối mục từng giờ

(Hay thậm chí cả quốc gia cũng vậy,

Bị chôn vùi trong quên lãng, thờ ơ),

Thế mà bỗng một giáo sư chợt thấy,

Rất vô tình, mấy bản thảo nhà thơ,

Nhân một hôm quét nhà hay chữa mái,

Và từ đó nhà thơ thành vĩ đại.

90

Thế vĩ đại là cái gì, xin hỏi?

Là hư danh, mây gió – đủ lắm rồi.

Là cái từ các sử gia thích gọi

Chứ không vì các tác phẩm. Theo tôi,

Thành T’roa mà Homer, xin lỗi,

Không nói gì, thì cũng thế mà thôi.

Marlborough không trở nên lừng lẫy,

Nếu ông Cox không đưa ông lên giấy.

91

John Milton, ông trùm thơ vĩ đại,

(Tuy kể ra hơi triết lý nặng nề),

Rất bản lĩnh, rất cao siêu, thông thái,

Chẳng có gì là quá đỗi đam mê.

Về đời tư, theo Johnson kể lại:

Hồi ở trường ông bị đánh rất ghê.

Và lấy vợ, nghe đâu ông lẩm cẩm,

Nên vợ bỏ (đấy là điều nên cấm).

92

Nhưng mà thôi, cũng chẳng sao điều đó.

Đến Sếcxpia còn bắn trộm hươu người,

Lord Bacon nghe đồn ăn hối lộ,

Burns cũng từng nổi tiếng rất ăn chơi.

Về cái yếu, cả Xêda cũng có,

Cromwell từng phá phách khá nhiều nơi.

Nghĩa là ai cũng có vài mặt yếu

Không tô điểm cho vinh quang – dễ hiểu.

93

Không phải ai cũng trang nghiêm, đạo mạo

Như Southey trong học thuyết Công bằng;

Như Wordsworth khi đem thơ xào xáo

Với các từ dân chủ rởm rất hăng;

Như Coleridge chưa bán mình cho báo,

Định lập làng ở châu Mỹ giá băng,

Cùng Southey, lấy hai cô thành Bath,

Hai chị em chuyên làm nghề mũ, quạt.

94

Tên của họ giờ làm ta lại nhớ

Botany Bay của đạo đức suy đồi.

Sự phản bội và gian tham càn rỡ

Chỉ tăng phần bêu xấu họ mà thôi.

Ông Wordsworth gần đây, nghe mà sợ,

Cho ra bừa một cuốn sách, theo tôi,

Tồi tệ nhất (đặt tên là Buổi dạo)

Kể từ ngày có ngành in sách báo.

95

Ông ta dựng một hàng rào ngăn cách

Giữa ông ta và người đọc của mình,

Còn những ai yêu ông và cuốn sách,

Chẳng khác gì Southcote Nữ tiên sinh.

Dù họ thuyết, họ van xin đủ cách,

Cũng chẳng làm xiêu bạn đọc thông minh.

Cái họ gọi là thiên tài của họ

Là bệnh phù của bà kia khốn khổ.

96

Nhưng thôi đủ, tôi làm hư, xin lỗi,

Tiểu thuyết tôi bằng cách tán lạc đề,

Bỏ nhân vật tận đâu đâu, tôi nói

Đủ các điều này nọ, khá say mê.

(Như những bài discours du trône sôi nổi

Mà một thời tôi đã đọc và nghe).

Cái tính tôi hay quên, thưa các vị,

Dẫu không là Ariosto người Ý.

97

Ta không có từ longueurs, tôi biết,

(Tiếng Ăng-lê có chữ nghĩa là dài

Mà Southey của chúng ta thích viết),

Những từ này tôi thiết nghĩ không ai

Trong bạn đọc lấy làm yêu tha thiết.

Và nếu cần, tôi dám chắc không sai,

Sẽ chứng minh: epopée tráng lệ

Có cùng nghĩa với ennui (buồn tẻ).

98

Horace nói: “Homer nhiều khi ngủ”,

Tôi thì nghi Wordsworth thức nhiều:

Ông ta ngồi trên Cỗ xe thích thú,

Dạo quanh hồ, những hồ nước thân yêu.

Ông ta cần một chiếc thuyền nào đó

Để lên trời, trong mây gió phiêu diêu,

Rồi rầu rĩ, ông lại đòi chiếc khác,

Để nước dãi rơi lên đầu sóng bạc.

99                  

Nếu Pégasse không thích xe như thế,

Mà nhà thơ cứ một mực: lên trời!

Thì ông ta nhờ Medea có thể

Cho mượn rồng bay thử một vài nơi.

Nhưng khốn nỗi, ông ta ngu dốt tệ

Cứ sợ mình giống cổ điển (than ôi),

Nhưng lại thích lên mặt trăng, trên ấy,

Nên mới cần quả cầu bay đến vậy.

100

Người bán rong, Cỗ xe, Thuyền ảm đạm…

Ôi Dryden, cả Pope nữa, lúc này

Thơ là thế. Nhưng phải chăng đồ nhảm

Lại hàm hồ được phép gọi thơ hay?

Và không lẽ bọn cade kia lại dám

Dẫm lên mồ của hai vị hôm nay?

Và tác giả Peter Bell ngu ngốc

Khinh tác giả Achitophel bác học?

101

Quay lại chuyện của chúng ta – nhạc tắt.

Nhà thơ thôi không đọc nữa, thằng hề

Và vũ nữ đang rút lui dè dặt.

Trên bầu trời sao nhấp nhánh. Haiđê

Và Đôn Juan trong tình yêu ngây ngất,

Đang ngồi chìm trong ánh sáng đê mê…

Ave Maria! giây phút này cực lạc

Chỉ xứng đáng với Người, không thể khác.

102

Ave Maria! Ôi phút giây đẹp đẽ.

Ở miền quê nơi con đã ngày nào

Được chiêm ngưỡng cả khối hồng lặng lẽ

Phía chân trời đang lặn, diệu kỳ sao.

Vâng, lúc ấy những hồi chuông nhè nhẹ

Từ nhà thờ vang vọng tới; trên cao

Trời lặng gió, biển như êm tiếng sóng.

Tiếng cầu kinh làm cành cây xao động.

103

Ave Maria! đó là giờ hạnh phúc.

Ave Maria! là giây phút nguyện cầu.

Ave Maria! cho chúng con trần tục

Được nhiều người lên đấy, chốn thâm sâu.

Ave Maria! khuôn mặt Người nhẫn nhục,

Đôi mắt Người chờ đợi cánh chim câu.

Người nhìn con từ trên cao vòi vọi

Và soi sáng cõi lòng con tăm tối.

104

Một số báo cứ kêu lên như thể

Tội là anh không kính chúa bốc đồng.

Bản thân họ, khi trách tôi như thế,

Có chắc mình, mộ đạo tốt hơn không?

Tôi biết cách tìm đường lên Thượng đế,

Và bàn thờ là dãy núi, dòng sông,

Là trái đất, là trăng sao, biển rộng,

Là những gì đã làm nên cuộc sống.

105

Ravenna! Cả rừng không nhuốm đỏ

Nắng hoàng hôn cũng kỳ diệu thế này,

Nơi tàn lụi bao lâu đài kiên cố

Mà những người La Mã gắng sức xây.

Ôi rừng thông đứng bên bờ sóng vỗ,

Tôi vẫn còn nhớ mãi đến hôm nay

Những câu chuyện, những chiến công oanh liệt

Mà Dryden, Boccaccio đã viết.

106

Cả rừng thông chìm trong sương phủ trắng,

Bốn xung quanh rền rĩ tiếng ve sầu.

Cây xào xạc, và từ xa văng vẳng

Tiếng chuông chiều đang vọng tới từ đâu.

Trước mặt tôi là bóng ma im lặng,

Một hình người cưỡi ngựa, chạy theo sau

Là bầy chó đang đuổi săn cô gái –

Đúng như lời Ônesti kể lại.

107

Hesperus, ngôi sao chiều hạnh phúc,

Người mang cơm cho kẻ đói, mang nhà

Và an ủi cho những người khổ nhục.

Người chỉ đường cho những khách đi xa.

No hay đói, buồn hay vui – một lúc,

Trên bầu trời, người vẫy gọi chúng ta.

Người tập hợp xung quanh mình tất thảy,

Đưa thế giới vào màn đêm lộng lẫy.

108

Ôi giây phút hoàng hôn kia thơ mộng

Làm trái tim vô cớ bỗng yếu mềm,

Làm nhớ lại những ngày ta đã sống,

Nhớ bạn bè ta xa cách… Màn đêm

Đang chầm chậm từ rừng cây tỏa rộng.

Tiếng chuông chiều bay lại, nhẹ và êm.

Gì thế nhỉ? Sao ta buồn, bạn đọc?

Không ai chết mà hình như ai khóc.

109

Khi Nêrông, tên giết người, bị giết,

Cả thành Rôm được giải phóng reo hò,

Cả dân tộc bao nhiêu năm rên xiết

Đang tưng bừng chào cuộc sống tự do –

Thế mà có một bàn tay lấm lét

Mang đến mồ cả một bó hoa to,

Bó hoa đẹp, riêng điều này chứng tỏ

Rằng dù sao vẫn có người yêu nó.

110

Vâng Nêrông… Lại lạc đề, xin lỗi.

Dù Nêrông hay ai nữa thì rồi

Cũng chẳng dính đến chuyện ta đang nói.

Chắc hoàn toàn tôi phá hỏng thơ tôi

Bằng cách tán lạc đề. Tôi bị gọi

Hồi ở trường Cambrigde, than ôi,

Là nhà thơ có tên thìa gỗ mọt,

Tức là anh nói nhiều mà học dốt.

111

Thôi, không muốn làm đau đầu các bạn,

(Do đọc thơ dài quá) cái chương này

Tôi quyết định chia đôi cho đỡ chán,

Nên bây giờ xin dừng lại ở đây.

(Chỉ vị nào loại thông minh, hói trán

Mới biết rằng chia như thế là hay).

Arixtôt khuyên tôi làm chuyện đó.

Xin mời đọc Poetica sẽ rõ!